Tin Tức

BỆNH LÝ MẠCH MÁU

17/08/2017 | 11:17

 

Bệnh lý mạch máu ngoại biên, hay còn gọi là PVD (Peripheral Vascular Disease), bao gồm những tổn thương hoặc thuyên tắc ảnh hưởng đến các mạch máu nằm cách xa tim (tức là những động /tĩnh mạch đem máu đến và đi cho các chi cũng như nội tạng từ vùng dạ dày trở xuống). Ngoài ra, PVD còn có thể ảnh hưởng những động mạch cung cấp máu cho đầu.

     Các dạng chủ yếu của PVD gồm có huyết khối, viêm, chít hẹp hay tắc mạch máu. Trong đó:
     – Những bệnh liên quan đến động mạch: tắc động mạch, phình, bệnh Buerger, bệnh Raynaud, v.v…
     – Những bệnh liên quan đến tĩnh mạch: huyết khối, thuyên tắc phổi, viêm, giãn tĩnh mạch, v.v…
     Dưới đây, xin giới thiệu sơ nét 1 vài trong số các bệnh lý trên.

     1. Tắc động mạch:

Diagram of a diseased artery

      a) Nguyên nhân:
     Giống như động mạch vành, các động mạch ngoại biên có thể bị tắc do các mảng xơ vữa. Đó là những khối giống như sáp hình thành bên trong lòng mạch, có thành phần gồm cholesterol, chất béo, calci và fibrin (một yếu tố đông máu tự nhiên).
     Khi một mảng xơ vữa tích tụ dần trong lòng mạch đạt kích thước đủ lớn, nó sẽ gây cản trở lưu thông, khiến dòng máu chảy chậm lại, thậm chí tắc hoàn toàn. Tình trạng máu chảy chậm lại này làm cho tế bào không được cung cấp đủ oxy, còn gọi là thiếu máu nuôi. Nếu với động mạch vành, nó gây ra cơn nhồi máu cơ tim thì trên PVD, hậu quả của nó cũng nghiêm trọng không kém khi ảnh hưởng đến mạch máu não (gây đột quỵ). Còn ở chân, bệnh nhân sẽ cảm thấy rất đau và vọp bẻ.
     Những yếu tố nguy cơ hàng đầu cho mảng xơ vữa này là hút thuốc lá, tiểu đường, tăng huyết áp, cholesterol cao.

     b) Triệu chứng:
     
Tùy vào vị trí tắc, bệnh nhân có thể đau ở cẳng chân, đùi, hay vùng mông. Thông thường, cường độ đau tỉ lệ thuận với mức độ tắc. Trong những trường hợp nặng, ngón chân trở nên xanh tím, bàn chân lạnh, mạch yếu. Nghiêm trọng hơn nữa, mô thiếu máu sẽ bị hoại tử, khi đó cắt cụt là không thể tránh khỏi.
     Đôi khi, vọp bẻ xảy ra ở lúc bệnh nhân đi bộ. Càng hoạt động nhiều cơn đau càng tăng lên. Tình trạng này gọi là cơn đau cách hồi, tức là khi bệnh nhân đi một đoạn thì bị đau, nghỉ sẽ hết đau, nhưng đi tiếp thì lại đau nữa. Tuy nhiên, nhiệt độ lạnh và một vài loại thuốc cũng có thể gây đau chân tương tự.

     c) Chẩn đoán:
     
Trước hết, là dựa vào lâm sàng, với những triệu chứng đã nêu trên, thăm khám sẽ thấy mạch yếu hoặc mất ở khu vực đó.
     Cận lâm sáng hỗ trợ:
     – Siêu âm mạch máu.


     – Chụp mạch máu đồ: cho các trường hợp nặng mà nhiều khả năng phải thực hiện thủ thuật can thiệp thông qua catheter hoặc phẫu thuật.

 

     d) Điều trị:
     
Trong các trường hợp nhẹ, hướng xử trí là chỉ cần kiểm soát tốt tình trạng cơ thể với giảm cân, bỏ thuốc lá, tập thể dục thường xuyên theo sự hướng dẫn của bác sĩ.
     Thủ thuật can thiệp thông qua catheter (can thiệp nội mạch) như đặt stent, bóng… áp dụng cho những ca nặng.
     Ngoài ra, còn một thủ thuật nữa là phẫu thuật bắt cầu mạch máu, tức cho máu chảy vòng qua chỗ bị tắc. Bằng một đường rạch da chỗ bị tắc mạch, người bác sĩ sẽ lấy một mạch máu nhân tạo (hoặc của chính bệnh nhân) nối chỗ ở phía trên với phía dưới động mạch bị tắc. Như vậy, máu sẽ lưu thông “tắt” qua con đường mới, mà không bị cản trở nữa.

     2. Bệnh Buerger:

     a) Sơ lược:
    Nhiều bác sĩ thường ví von: “Như hình ảnh thuốc lá đang cháy dở, bàn tay/bàn chân của bệnh nhân sẽ bị đốt từ từ giống như chính điếu thuốc họ đang cầm”.
     Đây là một bệnh liên quan thói quen hút thuốc lá, gây sưng các mạch máu nhỏ và vừa (thường là động mạch) ở tay, chân dẫn tới lòng mạch bị thắt lại. Bệnh này tuy hiếm, nhưng thường xảy ra ở nam giới nhiều hơn, ở độ tuổi hút thuốc (20-40), minh chứng thêm cho mối liên quan giữa chúng.
     Hút thuốc lá luôn luôn gây co mạch ở tất cả mọi người. Tuy nhiên, đối với những ai có cơ địa mắc bệnh Buerger, mạch máu có xu hướng co thắt quá mức, khiến mô bị thiếu máu nuôi và hoại tử.

     b) Triệu chứng:
     
Thay đổi theo nhiều người, thường nhất là cảm giác ấn đau, sưng vùng mạch máu đó, theo sau là lạnh tay/chân. Đau cách hồi có thể xảy ra, vì bệnh có gây tắc động mạch. Những trường hợp nặng nhất, đầu chi bị hoại tử, và ngón tay, ngón chân hư cần phải được cắt bỏ.

     c) Xử trí:
     
Một khi đã bị bệnh Buerger, bệnh nhân phải hoàn toàn bỏ thuốc lá. Thông thường, sự hồi phục sẽ xảy ra nhanh chóng sau đó.

     3. Bệnh Raynaud:

     Bệnh thường xảy ra ở phụ nữ. Đây là một rối loạn tuần hoàn máu xảy ra ở đầu chi, các động mạch ngón tay/ngón chân co thắt quá mức khi họ tiếp xúc với nhiệt độ lạnh, bị stress tình cảm, hay thậm chí là hút thuốc.
     Đến nay, cơ chế gây bệnh vẫn chưa rõ. Có tác giả cho rằng đó là tác dụng phụ của tình trạng khác như bệnh lý mô liên kết, chấn thương, bệnh thần kinh.

     a) Triệu chứng:
     
Tê ngón tay ngón chân, cảm giác như kim chích, sau đó tái đi vì thiếu oxy. Nhưng sau đó, khi các mạch máu giãn ra lại, một số vùng lại trở nên đỏ. Một đợt tấn công như vậy thường kéo dài vài phút đến vài giờ.

     b) Xử trí: Bệnh nhân cần phải giữ ấm chi thường xuyên, bỏ thuốc lá, tránh nhiệt độ lạnh và đừng để sốc tình cảm. Ngoài ra, thuốc giảm đau hay thuốc chẹn kênh calci có thể được sử dụng.

     4. Viêm tĩnh mạch:

     Có 2 dạng viêm tĩnh mạch. Dạng thường nhất là sưng tĩnh mạch nông, thường ở chân. Dạng thứ hai là sưng tĩnh mạch ở sâu, trường hợp này hiếm hơn nhưng nặng.

     – Đối với dạng thứ nhất, vùng bị viêm sẽ đỏ và đau. Cơn đau này có thể chữa dễ dàng với xông hơi ấm, aspirin và thuốc kháng viêm.

     – Dạng thứ hai, tĩnh mạch viêm sẽ gây đau dữ dội hơn, có thể sốt. Scan dùng kỹ thuật y học hạt nhân, Doppler tĩnh mạch, hoặc một dụng cụ đặc biệt đo mức độ thay đổi thể tích bộ phận của cơ thể (plethysmography) giúp ta xác nhận tĩnh mạch sâu có viêm hay không. Dạng này nguy hiểm ở chỗ nó có khả năng gây ra huyết khối tĩnh mạch, thậm chí thuyên tắc phổi. Do đó, một bệnh nhân bị tình trạng này sẽ được điều trị theo dõi 1 đợt 7 ngày với thuốc chống đông hay làm loãng máu. Trong thời gian này, bác sĩ thường xuyên kiểm tra dấu hiệu thuyên tắc phổi. Sau đó, bệnh nhân sẽ được cho điều trị dài hạn bằng việc uống thuốc chống đông.

     5. Giãn tĩnh mạch:

     Tĩnh mạch giãn khi nó phồng lên, tím và thấy được dưới da. Nguyên nhân do tổn thưởng những tĩnh mạch nông, làm chậm dòng máu chảy, hoặc liên quan đến suy chức năng van. Thông thường, van tĩnh mạch là để giúp máu chỉ đi 1 chiều về tim mà không ngược lại.
     Khi một trong hai nguyên nhân trên xảy ra, máu ứ đọng lại trong tĩnh mạch, gây nên tình trạng giãn. Bệnh xảy ra ở nữ nhiều hơn nam, tỉ lệ cao hơn đối với những ai có tiền căn gia đình người thân bị giãn tĩnh mạch. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai cũng có nhiều nguy cơ giãn tĩnh mạch do sự thay đổi nội tiết tố và sức nặng em bé. Tương tự, người béo phì mức độ nặng và những người đứng lâu cũng vậy.

     a) Triệu chứng:
     
Dễ thấy nhất là dấu nổi tĩnh mạch ngoằn ngoèo, xanh tím trên da, giống rắn bò. Xung quanh chỗ giãn có thể thấy mạng lưới mao mạch “mạng nhện” hiện lên có màu xanh. Bệnh nhân cảm giác đau, châm chích ở chân. Mắt cá chân thường phù vào cuối ngày. Nhìn chung, nguyên nhân khiến người ta đi khám nhiều nhất là sự mất thẩm mỹ.

     b) Điều trị:
     
Trong giai đoạn sớm, mang vớ tĩnh mạch giúp giảm đau và bớt phồng, nhưng không trị tiệt căn được bệnh.
     Tiêm dung dịch muối hòa tan vào tĩnh mạch góp phần cho nó co rút lại, bớt giãn. Một loại dung dịch đặc biệt khác có thể được sử dụng, nó gây viêm thành tĩnh mạch, rồi khi ta dùng băng quấn chân chặt lại, các thành tĩnh mạch sẽ tiếp xúc nhau. Những vết sẹo hình thành sau đó giúp kết nối các thành này lại.
     Một vài dạng giãn tĩnh mạch và mạng lưới “mạng nhện” điều trị được bằng laser: nhiệt tỏa ra gây phá hủy tĩnh mạch bị bệnh, làm nó biến mất và khóa lại.
     Cuối cùng là biện pháp mổ: Tĩnh mạch được treo cố định vào một chỗ nào đó trong vùng xung quanh, đoạn bị giãn cắt bỏ đi. Cơ thể sẽ tự phục hồi đường đi mới cho máu lưu thông.

     Nguồn:

     http://www.texasheartinstitute.org/HIC/Topics/Cond/pvd.cfm#phleb

go top